Theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ nợ xấu hiện nay của hệ thống ngân hàng đã giảm xuống mức khoảng 6% tổng dư nợ, thay vì con số 8,6% như trước kia. Nếu đây là con số thật thì đó là điều hết sức đáng mừng, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay công ty xử lý nợ quốc gia vẫn chưa được ra đời. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia kinh tế cũng đặt dấu chấm hỏi về độ chính xác của con số này?
Nợ xấu giảm – trích lập dự phòng rủi ro tăng
Theo tính toán, nếu như vào giữa năm 2012, nợ xấu của các NHTM chiếm khoảng 8,6% trên tổng dư nợ tín dụng khoảng 2,6 triệu tỷ đồng, thì con số nợ xấu tuyệt đối lúc đó vào khoảng hơn 220 nghìn tỷ đồng. Và trong khoảng thời gian từ đó đến nay, tốc độ tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng là 7% và tỷ lệ nợ xấu giảm xuống còn 6%, thì quy mô nợ xấu hiện tại vào khoảng gần 170 nghìn tỷ đồng, tức là đã giảm khoảng hơn 50 nghìn tỷ đồng.
Và cũng theo những thông tin được công bố vào giữa năm 2012, tổng vốn tự có của các TCTD khoảng hơn 400 nghìn tỷ đồng, tỷ lệ ROE khoảng gần 15%, tức là các TCTD có thể đạt mức lợi nhuận 60 nghìn tỷ đồng trong năm 2012. Còn theo thông tin mới công bố gần đây, tổng lợi nhuận toàn ngành ngân hàng năm 2012 là 28.600 tỷ đồng, giảm gần 50% so với năm 2011.
Như vậy, nếu tình hình kinh doanh trong năm 2012 không kém hơn so với năm 2011, thì có thể thấy rằng, các ngân hàng thương mại đã dành khoảng 30 nghìn tỷ đồng cho việc lập dự phòng để xử lý nợ xấu. Phần còn lại hơn 20 nghìn tỷ đồng đã được xử lý theo các cách khác.
Trích lập dự phòng không phải là xử lý nợ xấu
Nhiều chuyên gia tài chính cho rằng, nợ xấu chỉ được coi đã xử lý xong khi nào nó không còn tồn tại ở cả TCTD, định chế trung gian và người vay. Do vậy, trích lập dự phòng ở các TCTD không phải là xử lý nợ xấu mà đó là một nghiệp vụ của công tác kế toán theo nguyên tắc thận trọng.
Việc hạch toán ngoại bảng nợ xấu hay chuyển nợ xấu từ TCTD sang Công ty xử lý nợ (AMC) của chính TCTD hay AMC quốc gia thì mới chỉ làm đẹp sổ sách của TCTD, vì thực ra, quyền chủ nợ vẫn còn và nợ xấu vẫn tồn tại ở phía DN. Vì thế, mấu chốt của quá trình xử lý nợ xấu là phải xử lý tận gốc, nghĩa là xử lý tại chính người vay.
Ông Nguyễn Đức Độ – Chuyên gia tài chính cũng đồng quan điểm này và khẳng định: Nợ xấu, về bản chất là một khoản thiệt hại. Nợ xấu chỉ được giải quyết triệt để khi xác định chính xác được mức độ thiệt hại đó bằng bao nhiêu và ai là người phải chịu khoản thiệt hại này. Muốn vậy, phải có một mức giá để nợ xấu có thể được mua bán, chuyển nhượng.
“Nếu các NHTM sẵn sàng trích lập dự phòng đầy đủ theo quy định và nhận tất cả tổn thất về mình bằng việc giảm lợi nhuận, thậm chí giảm vốn tự có, thì có thể coi là nợ xấu đã được xử lý triệt để. Mặc dù vậy, tính triệt để ở đây chỉ xét ở góc độ kinh tế. Cho dù các ngân hàng trích lập dự phòng đầy đủ, có thể vẫn còn nhiều rắc rối về mặt pháp lý chưa được giải quyết triệt để” - Ông Độ nói.
Nói về xu hướng xử lý nợ xấu hiện nay, theo các chuyên gia tài chính, các khoản nợ có thể cơ cấu lại sẽ càng ngày càng ít. Còn nếu các NHTM tiếp tục trích lợi nhuận để tăng dự phòng như vừa qua, thì cũng cần nhiều năm nữa mới xử lý xong vấn đề nợ xấu.
Hơn nữa, khi các NHTM trích dự phòng đầy đủ, họ sẽ đòi quyền được định đoạt đối với các tài sản thế chấp. Điều này có thể sẽ dẫn đến những tranh cãi pháp lý trên diện rộng giữa ngân hàng và doanh nghiệp, thậm chí cả những chủ thể khác như các chính quyền địa phương.
Điều mà thị trường quan tâm nhất hiện nay là phải có một cái giá tham chiếu để mua bán nợ xấu, cũng như các cơ sở pháp lý cho việc chuyển nhượng tài sản thế chấp.
Tuy nhiên, nếu không có sự tham gia của Nhà nước, thị trường có thể sẽ mất rất nhiều thời gian để xác định mức giá mà người mua và người bán có thể gặp nhau. Mức giá, nếu đạt được, có thể sẽ rất thấp và nhiều doanh nghiệp sẽ phải phá sản.