Một số động thái của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thời gian gần đây cho thấy, việc “thắt” tín dụng bắt đầu được triển khai. Một trong những nguyên nhân để NHNN đưa ra động thái tăng cường kiểm tra, thanh tra hoạt động cho vay tại ngân hàng là do dư nợ tín dụng đã có tốc độ tăng trưởng khá nhanh trong 6 tháng đầu năm.
Đây cũng chính là lý do khiến các ngân hàng bắt đầu tỏ ra thận trọng trong việc cung cấp các khoản vay, không chỉ với tín dụng cá nhân (tiêu dùng, cầm cố chứng khoán, bất động sản) mà ngay cả với việc cung ứng vốn cho khách hàng doanh nghiệp, trong đó không loại trừ cho vay hỗ trợ lãi suất…
Với tốc độ dư nợ tín dụng 2 quý đầu năm của toàn ngành đã lên đến con số 17% thì 6 tháng còn lại sẽ chỉ còn tối đa 13%. Bởi chủ trương của Chính phủ và NHNN đưa ra trong năm nay là kiểm soát tăng trưởng tín dụng dưới 30%, nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo được việc chủ động kiểm soát lạm phát. Chính điều này đã buộc NHNN phải đưa ra các động thái trên. Từ đó, các ngân hàng thương mại cũng không thể ồ ạt cho vay như 2 quý đầu năm.
Đặc biệt, với tín dụng cá nhân, các ngân hàng đã chặt chẽ hơn về điều kiện tín dụng, hạn mức vốn cấp và rút ngắn thời gian, nhất là với tín dụng cầm cố chứng khoán và kinh doanh bất động sản. Tại Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), với sản phẩm cho vay cầm cố hiện đã siết lại hạn mức vốn cấp đối với các mã chứng khoán trong danh mục lựa chọn. Theo đó, Eximbank chỉ cho vay tối đa 20% thị giá cổ phiếu, thay vì 30% như tháng trước. Đồng thời, Ngân hàng cũng chọn lọc cổ phiếu cầm cố có thanh khoản cao, thời gian cho vay cũng được rút ngắn, để hạn chế rủi ro trước bối cảnh TTCK đang có biễn biến phức tạp.
Thực tế, nhiều ngân hàng đã khá “rộng tay” với tín dụng bất động sản tiêu dùng và cầm cố chứng khoán trong 2 quý đầu năm, đẩy dư nợ cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán ước đến thời điểm 30/6/2009 tăng 28,31% so với cuối năm 2008. Chính vì vậy, mỗi ngân hàng cũng phải tự hạn chế lại để phòng tránh rủi ro.
Đối với tín dụng tiêu dùng (mua ôtô, vật dụng trong gia đình), trước đây nhiều ngân hàng cung cấp hạn mức vốn tối đa lên đến 90 - 100% nhu cầu, thì bây giờ cũng đã giảm xuống khá nhiều. Đồng thời, điều kiện để vay tín chấp trong lúc này cũng khó hơn trước. Giám đốc khối khách hàng cá nhân của một ngân hàng tại TP. HCM cho biết, kể từ khi NHNN ra yêu cầu các ngân hàng tự kiểm tra tín dụng tiêu dùng và báo cáo lên Thanh tra NHNN trong ngày 15/7 vừa qua, dư nợ cho vay đối với khách hàng đã chững lại trông thấy. Tất nhiên, bên cạnh ảnh hưởng bởi chính sách thắt chặt tín dụng, cũng còn do tình hình kinh tế còn khăn nên người tiêu dùng chưa mạnh dạn trong việc vay vốn ngân hàng để chi tiêu.
Với tín dụng cầm cố chứng khoán và cho vay bất động sản tiêu dùng mới bắt đầu phát triển khi thị trường ấm lên vào đầu quý II/2009 thì nay đã có sự điều chỉnh, dẫn đến dư nợ cho vay cầm cố chứng khoản sụt giảm mạnh; đối với tín dụng bất động sản, hầu hết ngân hàng chỉ mới triển khai cho cá nhân vay vốn mua nhà, đất trả góp, mà không cung ứng vốn cho nhà đầu cơ.
Không chỉ với tín dụng cá nhân mà ngay cả chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất cũng bắt đầu được các ngân hàng “siết” chặt hơn điều kiện tín dụng. Tổng giám đốc Ngân hàng Á Châu (ACB), ông Lý Xuân Hải cho biết, sự thận trọng trong quá trình lựa chọn đối tượng khách hàng để cung ứng vốn hỗ trợ lãi suất là luôn luôn cần thiết. Đặc biệt là trong bối cảnh thị trường hiện nay, nếu cung ứng vốn giá rẻ nhầm cho đối tượng doanh nghiệp là các nhà sản xuất nước ngoài thì rất nguy hiểm. Vì như thế sẽ gây khó khăn hơn cho doanh nghiệp trong nước và quan trọng hơn cả là ngân hàng không cấn trừ được phần lãi suất hỗ trợ từ NHNN (chủ trương hỗ trợ lãi suất chỉ dành cho doanh nghiệp trong nước).
Cũng theo ông Hải, quan điểm của ACB lâu nay xem rủi ro tín dụng luôn là rủi ro lớn nhất trong hoạt động ngân hàng và trong lúc này việc cẩn trọng trong phát triển tín dụng càng được đặt lên hàng đầu; cho dù vẫn biết rằng cẩn trọng đồng nghĩa với nguồn thu từ hoạt động này sẽ giảm.
Với các động thái của cơ quan quản lý và sự thận trọng của các ngân hàng thương mại, có thể thấy khả năng tăng trưởng dư nợ tín dụng sẽ chậm lại đáng kể trong quý IV/2009 nếu so với hai quý đầu năm. Dù các doanh nghiệp và người tiêu dùng có thể khó khăn hơn trong việc tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng, nhưng để cân bằng giữa tăng trưởng và hạn chế nguy cơ lạm phát, đồng thời đảm bảo bền vững trong hoạt động ngân hàng thì việc kiểm soát chặt tín dụng trong thời điểm này được đánh giá là động thái hợp lý.